Thứ Ba, 12 2017 09:20 CH
中国的
Tìm hiểu văn học dân gian Phật giáo ở Bình Dương
03:24 CH | 18/06/2016
     TÌM HIỂU VĂN HỌC DÂN GIAN PHẬT GIÁO Ở BÌNH DƯƠNG 
Dương Hoàng Lộc

Sách Sơ thảo Phật giáo Bình Dương nhận định: “Phật giáo có mặt trên vùng đất Bình Dương từ thế kỷ XVII. Các thiền sư đã khai lập và phát triển Phật giáo từ những ngày đầu cùng đoàn di dân lập nghiệp. Phật giáo đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng vùng đất mới này, và đã tạo nên một sắc thái đặc thù giữa đạo Phật và dân tộc, một bản sắc văn hóa thuần túy từ văn thơ, hội họa, lễ nghi, kiến trúc, góp phần tạo nên một bức tranh phong phú tươi đẹp cho vùng đất Bình Dương hôm nay”[1]. Xưa cũng như nay, Phật giáo đã đóng góp trong việc xây dựng và phát triển vùng đất Bình Dương ở nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học. Văn học dân gian Phật giáo tỉnh Bình Dương là một di sản trong kho tàng văn hóa của địa phương. Việc tìm hiểu vấn đề này có ý nghĩa quan trọng, góp phần hiểu hơn mối quan hệ giữa Phật giáo với tiến trình lịch sử cũng như bối cảnh văn hóa-xã hội của Bình Dương trong quá khứ lẫn hiện tại.

 

I. Mối quan hệ giữa Phật giáo và văn học dân gian

            Phật giáo và văn học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Phật giáo dùng văn học để chuyển tải hệ tư tưởng của mình trong việc truyền đạo, ca ngợi, miêu tả phong cảnh chùa chiền,…Đồng thời, cũng nhờ đó mà văn học đa dạng nội dung, tư tưởng và nghệ thuật thể hiện. Với văn học Việt Nam, Phật giáo tạo nên dấu ấn ở hai mảng văn học dân gian và văn học viết. Vì khi du nhập vào nước ta, Phật giáo một mặt đã thâm nhập sâu sắc vào quần chúng nhân dân, mặt khác lại ảnh hưởng đến những tầng lớp trên của xã hội, đặc biệt là trí thức phong kiến. Ngay từ buổi đầu du nhập và cả khi Phật giáo không còn là hệ tư tưởng chính của các triều đại phong kiến Việt Nam, tôn giáo này đã nhanh chóng hòa cùng đời sống làng xã Việt Nam. Trong văn học dân gian, hình ảnh ông Bụt thường xuyên hiện ra giúp đỡ những người hiền lành bị yếu thế đã cho thấy Phật giáo trong tâm thức của người bình dân Việt Nam có một vị trí nhất định.

            Văn học dân gian là những sáng tác của người bình dân, tồn tại và phát triển trong đời sống dân gian, thông qua phương thức truyền miệng. Mảng văn học này được phân thành hai bộ phận chính: Văn vần (ca dao, dân ca, hò, vè, hát ru, nói thơ, tục ngữ, thành ngữ, câu đố,…) và văn xuôi (thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cười,…). Các chủ đề của văn học dân gian Việt Nam thường gồm: Sự ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước, truyền thống lịch sử của dân tộc, miêu tả về đời sống xã hội, kinh tế, tình yêu đôi lứa,…của người bình dân. Đặc biệt, trong nội dung của văn học dân gian xuất hiện yếu tố tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo. Qua đó, người đọc phần nào thấy được quá trình du nhập của Phật giáo, hành trạng, lai lịch của các vị tổ sư, về lịch sử hình thành các ngôi chùa, tư tưởng, triết lý nhà Phật, nghi lễ Phật giáo và có cả những nhận định của người dân về tôn giáo này…. Văn học dân gian Phật giáo có thể được hiểu là các sáng tác dân gian mà nội dung chính có đề cập đến đạo Phật. Tác giả của nó không hẳn là các nhà sư, tín đồ Phật tử mà còn bao gồm nhiều tầng lớp bình dân khác nhau trong xã hội. Vì thế, việc tìm hiểu vấn đề này không dừng lại trong phạm vi nhà chùa, trong giới Tăng Ni Phật tử mà còn bao gồm một môi trường xã hội bên ngoài.

Để làm rõ hơn mối quan hệ giữa Phật giáo với văn hóa, văn học dân gian, chúng tôi muốn nhắc đến khái niệm tôn giáo dân gian. Don Yonder, dựa trên những phân tích về các quan điểm của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu tôn giáo và các quan điểm xã hội học, đã đưa ra định nghĩa: “Tôn giáo dân gian là tổng thể của tất cả các quan điểm và các thực hành tôn giáo tồn tại trong nhân dân, song hành và khác với các dạng thức mang tính nghi lễ và thần học chặt chẽ của tôn giáo chính thức” [2]. Từ kết quả nghiên cứu Thiên Chúa giáo, tác giả nhận định: “quan niệm của mọi người về Thiên Chúa giáo thường khác một cách căn bản so với những cái mô tả của giáo phái chính thức do các tu sĩ giảng”. Vậy, khái niệm tôn giáo dân gian có phù hợp với Phật giáo hay không? Đạo Phật là một tôn giáo có tính linh hoạt cao với tinh thần “tùy duyên hóa độ”. Do vậy, khi truyền sang nhiều quốc gia, những tu sĩ Phật giáo theo tinh thần này mà vận dụng giáo lý nhà Phật sao cho phù hợp với nhận thức và hiểu biết của người dân sở tại, truyền thống văn hóa và các đặc điểm kinh tế-xã hội ở từng địa phương, quốc gia. Nhà Phật gọi đây là khế lý, khế cơ. Mặt khác, khi tiếp nhận Phật giáo, dân gian có cách hiểu và quan niệm riêng theo cách hiểu của họ. Hai mặt này góp phần dẫn đến việc hình thành các đặc trưng văn hóa Phật giáo ở từng quốc gia, từng dân tộc-nơi mà Phật giáo đã thâm nhập, ảnh hưởng. Với người nông dân Việt Nam, Phật giáo còn được xem là tôn giáo dân gian.

 Bởi vì, tôn giáo này đã hòa quyện chặt chẽ vào đời sống của người nông dân Việt Nam qua câu “đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt” và có những sắc thái riêng biệt, khác với ở Ấn Độ-quê hương của Phật giáo. Chẳng hạn như trong Folklore Việt Nam, không phải là không có truyện kể về sự tích các vị Phật. Chỉ có điều, đó đều là những vị Phật bản địa như Phật Mẫu Man Nương, Phật Bà Quan Âm (Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải). Điều đặc biệt ở đây là các vị Phật bản địa đều mang giới tính nữ trong khi đạo Phật gốc vốn không có Phật Bà. Sự khác biệt này là kết quả của sự dung hợp tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu, tôn sùng phụ nữ trong văn hóa truyền thống của Việt Nam với một tôn giáo ngoại lai [4]. Ngoài ra, là tôn giáo dân gian- một thành tố quan trọng của folklore và có tính nguyên hợp, nên Phật giáo đã ảnh hưởng, thâm nhập, tích hợp với nhiều lĩnh vực thuộc văn hóa dân gian, đặc biệt càng không thể thiếu văn học dân gian. Do vậy, trong nội dung của văn học dân gian xuất hiện tư tưởng triết lý nhà Phật về thiện ác, luân hồi và  nhân quả báo ứng,…

II.  Một số nội dung chính của văn học dân gian Phật giáo ở Bình Dương

Như vậy, văn học dân gian Phật giáo tỉnh Bình Dương có những nội dung chính gì? Đồng thời từ đó phải chăng thế hệ sau có thể hiểu biết được phần nào về đạo Phật cũng như ảnh hưởng của tôn giáo này đến đời sống văn hóa, lịch sử và xã hội ở đây khi trước? Những nội dung mà chúng tôi phân tích sau đây phần nào trả lời những vấn đề đã nêu.

  II.1. Phật giáo đã đồng cam cộng khổ với cuộc sống của người dân Bình Dương ngay từ buổi đầu khẩn hoang lập nghiệp

Không hẳn trong phạm vi giới Phật giáo, người dân Bình Dương đến nay còn truyền miệng Sự tích Tổ Bưng Đĩa. Tổ Bưng Đĩa chính là nhà sư Đạo Trung-Thiện Hiếu, người sáng lập chùa Long Hưng (dân gian còn gọi đây là chùa Bưng Đĩa) nay thuộc xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Câu chuyện này như sau:  Sự tích Tổ Bưng Đĩa

            “Tương truyền rằng, Thiền sư Đạo Trung-Thiện Hiếu là vị cao tăng thuộc thế hệ thứ 38 của thiền phái Lâm Tế. Ngài từ chùa Hội Sơn ở Thủ Đức đi hoằng hóa đạo pháp ở nhiều nơi. Ngài có công khai lập chùa Linh Sơn ở núi Điện Bà Tây Ninh. Lúc này, bà thường hiện ra thành các cô gái đẹp trêu chọc, quyến rũ nhiều vị thiền sư đến đây tu hành. Khi tổ đến đây, như thường lệ, Bà hiện ra trêu chọc nhưng được tổ cảm hóa, nguyện qui y theo Phật pháp và sẽ không quấy phá các bậc tu hành  nữa. Từ chùa Linh Sơn, Tổ Đạo Trung-Thiện Hiếu lần bước về vùng Thới Hòa-Bến Cát. Thấy cảnh thanh tịnh, đồng ruộng thoáng mát nên ngài đã dừng chân tới nghĩ ở dưới gốc cây trâm ven bưng. Vùng này tuy đất đai phì nhiêu nhưng rất nhiều đĩa khiến người dân không thể trồng trọt gì được, đồng ruộng bỏ hoang. Thấy có một vị thiền sư vân du đến, dân làng mến mộ lập am tranh cho sư tá túc và cầu mong nhà sư chú nguyện đem đến sự bình an cho cuộc sống. Vì thấy đĩa quá nhiều khiến cho cuộc sống người dân khốn đốn, Tổ Đạo Trung-Thiện Hiếu bèn phát nguyện:”Nếu các loài đĩa đói do nghiệp chướng chưa được vãng sanh thì bây giờ sớm giác ngộ vãng sanh và nếu cần, ta nguyện hiến xác thân này cho loài đĩa ở đây và chỉ mong cho dân chúng được bình yên cày cấy”. Nói rồi, sư bèn trầm mình xuống bưng. Khi ngài ngồi dưới bưng chú nguyện thì có rất nhiều đĩa quay quanh. Bỗng nhiên có con đĩa thật to màu trắng bò thẳng lên đầu, nhưng sư vẫn an nhiên thiền định. Lát sau, con đĩa này và tất cả các đĩa khác ngã lăn ra chết. Từ đây, vùng này không còn các loài đĩa. Dân chúng dễ dàng cày cấy, trồng trọt hơn trước, đời sống được sung túc. Vì vậy, người dân còn gọi Tổ Đạo Trung- Thiện Hiếu là Tổ Bưng Đĩa.” [5]

Thuở xưa, vùng đất Nam bộ nói chung và Bình Dương nói riêng là nơi hoang vu, khắc nghiệt, thú dữ hoành hành, bệnh tật tràn lan,…Do vậy, Phật giáo muốn gắn bó với lưu dân khẩn hoang thì bắt buộc phải nhập cuộc, cùng nhau chia sẻ những khó khăn, hoạn nạn với họ. Tổ Đạo Trung-Thiện Hiếu đã thấy được yêu cầu đó, nên sư mới phát nguyện sẵn sàng xả thân phụng sự chúng sanh. Điều này đã góp phần hình thành mối quan hệ sâu sắc, bền chặt giữa Phật giáo với người dân ngay từ buổi ban đầu. Sự tích này còn cho thấy tấm lòng ngưỡng mộ, cảm mến ân đức của dân làng Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương đối với nhà sư có tấm lòng từ bi, can đảm, không màng đến thân mình để hiến cho loài đĩa đói, chỉ mong sao cho người dân đi bớt khổ cực. Theo quan niệm của đạo Phật, hành động của sư là noi theo gương Phật, Bồ-tát mà phát đại nguyện vì lợi ích chúng sinh. Ai muốn thực hiện hạnh bồ tát thì phải bố thí ba la mật. Trong kinh Đại Bồ tát tạng ghi: “Vì chứng đắc vô thượng Bồ đề, Bồ-tát thực hành bố thí ba la mật, nên được mười điều lợi ích đáng khen ngợi” [6]. Đặc biệt, trong mười điều lợi ích đó thì có: “Nhờ bố thí máu thịt, Bồ-tát được đầy đủ tất cả thân mạng bền vững, bảo hộ, nuôi dưỡng thiện căn chân thật cho tất cả chúng sinh” [7].

Cho nên, việc làm của ngài có ý nghĩa gieo duyên, tạo niềm tin, lòng hướng thiện và sự mầu nhiệm của đạo Phật vào lòng người dân. Giai thoại cũng cho thấy, sự xuất hiện một thiền sư từ phương xa đến là một vinh dự lớn của dân làng, thông qua việc dựng am tranh cho sư làm nơi tu hành và tin rằng ngài sẽ mang đến sự an lành cho họ. Trong bối cảnh khẩn hoang còn nhiều thách thức và trở ngại, nhu cầu tâm linh của lưu dân là rất lớn, đặc biệt rất cần sự hiện diện của các nhà sư. Tương tự, trong sách Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Trần Hồng Liên cho biết: “Trong bối cảnh xã hội của buổi đầu đi khai hoang, nhà ở còn tạm bợ, cuộc sống lại đầy bất trắc, khí hậu phong thổ chưa phù hợp, bệnh tật và cái chết luôn đe dọa cư dân…Được nghe thuyết giảng về một ít giáo lý nhà Phật, được nghe tiêng kinh đọc tụng, họ cảm thấy ấm áp và an tâm hơn” [8]. Ngoài hình ảnh nhà sư Đạo Trung-Thiện Hiếu ở Bình Dương, ở vùng đất Nam bộ, trong buổi đầu khẩn hoang với bao trắc trở, còn nhiều tấm gương của các nhà sư sẵn sàng xả thân cứu dân. Nhà nghiên cứu Sơn Nam cho biết thêm: “Đại Nam nhất thống chí ghi chép về tỉnh Gia Định đã nhắc đến ngày tết năm Canh Dần (1770), ở chợ Tân Kiểng (ngay bên đường Trần Hưng Đạo, quận 5), cọp dữ đến quấy rối, quân đội ở gần không can thiệp được, may thay có ông Tăng Ân đi ngang, ra sức dùng côn đánh cọp, cọp chui vào bụi tre. Ông bị tử thương, đồ đệ là Trí Năng giết được cọp, bấy giờ đã xây ngôi tháp lưu niệm. Lại chép chuyện ông Viên Ngộ ở Cần Giuộc, đầu năm Gia Long đã qui y. Với quyết tâm lớn, ông quyết định tích cực khẩn hoang tại vùng Thanh Ba (quê vợ ông Đồ Chiểu), cọp chặn đường, nhưng ông và dân trong xóm vẫn tiếp tục mở được hai con lộ giúp dân tới lui buôn bán. Ông lập chùa Tôn Thạnh, đúc tượng Địa Tạng cầm kinh mật niệm giúp đồng bào thoát cơn bệnh dịch, rồi ông nguyện suốt đời tịch cốc” [9].

 Như vậy, các tư liệu trên phần nào cho thấy Phật giáo đã nhập thế “hết mình” với tinh thần đồng cam cộng khổ, giúp đỡ người dân ổn định cuộc sống ở vùng đồng bằng Nam bộ khi xưa. Đồng thời, đây là nguyên nhân quan trọng góp phần giải thích tại sao đạo Phật lại bén rễ sâu và có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, xã hội của người dân ở đây. Không dừng lại ở đó, Sự tích Tổ Bưng Đĩa còn phản ánh mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Ở Việt Nam, do văn hóa mang tính dung hợp, Phật giáo và các hình thức tín ngưỡng dân gian thâm nhập qua lại, nhưng Phật giáo luôn ở vị trí cao hơn tín ngưỡng dân gian và Đạo giáo. Câu chuyện Phật Bà Quan Âm hòa giải cuộc chiến ở Sòng Sơn giữa các đạo sĩ của phái Nội đạo và Mẫu Liễu Hạnh, rồi sau đó còn qui y cho Mẫu Liễu đã thể hiện điều đó. Việc Tổ Đạo Trung-Thiện Hiếu đã cảm hóa và qui y Linh Sơn Thánh Mẫu có cùng ý nghĩa ‎trên. Ngoài ra, thông qua truyện này cho biết con đường truyền đạo của sư đi từ vùng Thủ Đức lên Tây Ninh rồi xuống Bình Dương. Điều này góp phần cho việc hình dung con đường truyền bá Phật giáo ở vùng Đông Nam bộ trước đây và con đường đó không mấy dễ dàng đối với các vị thiền sư khi trước. Ngoài ra, cùng với các vị thiền sư là những cư sĩ Phật giáo hết lòng đóng góp, giúp đỡ người dân và gieo duyên Phật pháp ở những nơi còn thưa thớt, khó khăn. Câu chuyện sau thể hiện điều đó. (còn tiếp).

 Tạp chí Hoa Đàm số 26

Các tin liên quan
» Trái tim trăng sáng - 03:14 CH | 27/10/2015
» Hoa mai của Thiền sư Mãn Giác - 08:44 CH | 07/04/2015
Hình ảnh cuộc đời Đức Phật Thích Ca  
XEM NHIỀU NHẤT
1/
06/06/2013 02:32 ( 14358 )
2/
14/01/2013 06:17 ( 12587 )
3/
05/06/2013 21:53 ( 10644 )
4/
06/06/2013 03:24 ( 10609 )
5/
22/06/2013 19:00 ( 10145 )
6/
06/06/2013 04:46 ( 10094 )
7/
12/01/2015 12:24 ( 9660 )
8/
24/08/2013 08:28 ( 9380 )
9/
14/01/2013 05:58 ( 9250 )
10/
10/03/2014 23:53 ( 9130 )
11/
14/01/2013 05:58 ( 9053 )
12/
14/01/2013 05:56 ( 9022 )
13/
06/06/2013 03:31 ( 8340 )
14/
23/09/2013 16:17 ( 7656 )
15/
13/01/2013 23:11 ( 7567 )
16/
14/01/2013 06:02 ( 7420 )
17/
14/01/2013 06:14 ( 7311 )
18/
10/03/2014 23:52 ( 6654 )
19/
29/07/2014 19:51 ( 6192 )
20/
08/06/2013 06:04 ( 6022 )
NHẠC PHẬT GIÁO
TRUY CẬP
Bạn là người truy cập thứ
: 26 055 970
Đang truy cập
: 310

Chinese Buddhism Pages
中国佛教网
http://www.foyuan.cn http://www.fod123.com http://www.hsfj.com http://www.pszj.org http://www.cnbuddhism.com http://www.foyue.net.cn http://www.21foxue.com http://www.foyin.com
http://www.putuoshan.org.cn http://www.fo114.net http://www.chinawts.com http://www.chinafo.org http://www.fjnet.com http://www.chinavegan.com http://www.fowang.com http://www.hongfasi.net