Thứ Ba, 12 2017 09:20 CH
中国的
Suy ngẫm từ "Truyện Kiều" của Nguyễn Du: Thúy Kiều và những lần nương nhờ cửa Phật
03:05 CH | 13/06/2016
 SUY NGẪM TỪ “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU

THÚY KIỀU VÀ NHỮNG LẦN NƯƠNG NHỜ CỬA PHẬT

                                                    Nguyễn Lê Tâm

1. Dẫn nhập

Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiền; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thông về văn chương. Với tư cách là một nhà thơ có tinh thần nhân đạo cao cả, một nhà thơ hiện thực sâu sắc, một con người của cuộc đời trần thế còn lắm gian nan, Nguyễn Du đã viết nên những tác phẩm bất hủ về quyền sống của con người. Bằng một thứ bút lực trác tuyệt,“con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”, tác phẩm của ông là nỗi cảm thương sâu sắc đối với những nỗi thống khổ, bi kịch, khiến cho các tác phẩm như “có máu sa ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thìa, ngậm ngùi đau đớn đến đứt ruột”, giằng xé tâm can. Truyện Kiều”(tên gốc Đoạn Trường Tân Thanh)là tác phẩm truyện thơ Nôm kinh điển nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du, dựa theo tiểu thuyết “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Hàng trăm năm qua, “dù tác phẩm còn bị hạn chế bởi tư tưởng định mệnh, nhưng nhìn chung Truyện Kiều vẫn là di sản quý báu của nền văn học Việt Nam” (PGS. Nguyễn Thạch Giang).

 Đọc tác phẩm, bên cạnh cuộc đời hồng nhan bạc phận của nhân vật chính được khắc họa đến bi thương, xã hội đương thời thối nát được vạch trần không khoan nhượng, người đọc vẫn thấy thấp thoáng tư tưởng Phật giáo đan xen vào mạch truyện và cuộc đời gian truân của nhân vật chính. Trong tác phẩm, Thúy Kiều đã ba lần đến nương nhờ cửa Phậttu hành tại chốn thiền môn thanh tịnh, mỗi lần là mỗi nguyên nhân, mỗi tâm trạng, mỗi bi kịch. Lần thứ nhất, Kiều bị Hoạn Thư nổi cơn ghen tuông, cho xuất gia tu tập tại Quan Âm Các. Lần thứ hai, sau khi trốn khỏi nhà họ Hoạn, Kiều vô tình nhìn thấy Chiêu Ẩn am (nơi vãi Giác Duyên trụ trì) nên đánh liều vào xin nương nhờ. Và lần cuối cùng, bên dòng sông Tiền Đường định mệnh, sau khi tự vẫn không thành, Kiều một lần nữa tái ngộ vãi Giác Duyên, cùng chung chạ sớm trưa”,”gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. Tuy có ba lần nương nhờ cửa Phật, nhưng không phải lần nào Thúy Kiều cũng dứt bỏ chấp niệm, an tâm tu tập, một lòng hướng về Phật pháp. Nhưng mỗi đều mang ý nghĩa riêng của nó, không chỉ là dụng ý nghệ thuật tạo nút thắt, mở cho cuộc đời Kiều mà còn là tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du và nhãn quan của ông về Phật giáo lúc bấy giờ.

 

2. Nguyễn Du và tư tưởng Phật giáo trong “Truyện Kiều”

Nguyễn Du bên cạnh là một nhà thơ vĩ đại, ông còn là một nhà Thiền học, một tín đồ Phật giáo từ trong tâm khảm. Sống trong thời đại bão táp, phong ba, lịch sử đổi thay, trải qua muôn vàn bể dâu khổ ải,chứng kiến con người quay cuồng trong khổ nạn trầm luân, Tố Như nhận ra rằng, con người muốn tồn tại thì phải vượt lên trên mọi sự điên đảo của thế tục, vượt lên thiên biến vạn hóa để thường trụ vào sự trường tồn, bất diệt. Vì thế, tư tưởng Phật học từ lâu đã thấm nhuần trong nhãn quan của Nguyễn Du đối với cuộc đời, từ đó được lồng ghép trong nhiều sáng tác quan trọng của ông. Đọc “Lương Chiêu Minh Thái tử phân Kinh thạch đài” (Bắc hành tạp lục), “Đề Nhị Thanh động” (Thanh Hiên thi tập), chúng ta dễ dàng nhận thấy tư tưởng Phật giáo bàng bạc xuyên suốt nội dung các tác phẩm. Nhưng có lẽ, tư tưởng Phật giáo của Nguyễn Du được trình bày một cách đặc sắc nhất là trong tác phẩm bất hủ “Truyện Kiều thông qua các hình tượng thơ, qua hành động của các nhân vật, tình huống truyện, diễn biến và xung đột của cốt truyện…

Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du chuyển tải tư tưởng Phật giáo vào nội dung không phải là sự lựa chọn có tính tình thế, ngẫu nhiên, hay vì sự quẫn bách của nhân vật. Từ rất sớm, nhận thấy sự vô vọng, mơ hồ của việc giải thoát con người khỏi đau khổ trong cuộc đời hiện thực, Nguyễn Du tìm đến triết lý nhân sinh của nhà Phật để giải đáp cho những uẩn khúc, những câu hỏi về sự tồn tại của con người giữa bể trầm luân, giải toả những bế tắc, tuyệt vọng trong tâm trạng khi ông dẫn dắt nhân vật đi trong xã hội đương thời. Không phải ngẫu nhiên mà ở những nút thắt, đỉnh điểm, biến cố quan trọng nhất của cuộc đời Thúy Kiều, Phật giáo thường xuất hiện như một lực lượng phù trợ linh nghiệm và huyền bí nhất, an ủi, và cứu giúp những đau khổ, tuyệt vọng và bất lực của Kiều. Đó chính là lối thoát cho số phận bi kịch con người chứ không phải là một triết lý giải thoát, mang màu sắc tâm linh. Vì thế, trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du thường dành những vần thơ đẹp đẽ và niềm tin sâu sắc cho Phật giáo:

“Cửa Thiền vào cữ cuối xuân

Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời”.

Hay:

“Nạn xưa trút sạch làu làu

Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này”.

3. Thúy Kiều tại Quan Âm Các

Sa vào chốn thanh lâu, Thúy Kiều phải sống trong ô nhục và sự hành hạ tàn nhẫn của Tú Bà, nàng từng tự vẫn nhưng không thành. Thúc Sinh đã có vợ là Hoạn Thư, con quan Lại bộ, nhưng chàng lấy cớ theo cha kinh doanh, để đi xa vợ cho được tự do ăn chơi. Hắn đến lầu xanh gặp Kiều, nghe nàng đàn và họa thơ, thì say mê, bỏ tiền chuộc ra, sau đó cưới làm thiếp. Thúc Sinh và Kiều dưới một mái nhà, những ngày tháng sống với chàng Thúc là những ngày tháng nàng hết sức hạnh phúc “hương càng đượm, lửa càng nồng”:

“Khi gió gác khi trăng sân,

Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ

Khi hương sớm khi trà trưa,

Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn”.

Tuy vậy, Thuý Kiều luôn luôn lo sợ cho thân phận vợ lẽ của mình, nàng nhiều lần khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư và thú thật cùng nàng. Thúc Sinh về, nhưng không dám hé răng nói thật. Còn Hoạn Thư, nàng ta đã biết tất cả mọi chuyện, nhưng vốn là kẻ "khôn ngoan hết mực", nàng giữ mọi việc "kín mít như bưng", trước Thúc Sinh thì nói cười như không, nhưng nàng cùng với mẹ là Hoạn bà mưu tính một sự báo thù độc ác, nham hiểm:

"Làm cho nhìn chẳng được nhau

Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên".

Khi Thúc Sinh trở lại Lâm Tri, Hoạn Thư sai một bầy Khuyển, Ưng đi đường nhanh hơn, đến nhà Kiều đốt nhà, đổ thuốc mê, bắt cóc Kiều, mang về nhà Hoạn bà và vứt một cái xác vô chủ nhặt bên sông vào đám cháy. Từ đây, Kiều rơi và tay Hoạn Thư, chịu đựng cơn ghen tuông khủng khiếp của nàng ta với những trận đòn roi đau đớn:

“Trúc côn ra sức đập vào,

Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh”

Hoạn Thư còn bắt Kiều làm hoa nô trong nhà, đánh đàn hầu rượu cho nàng ta và Thúc Sinh. Sau cùng, nàng ta đồng ý cho Kiều vào Quan Âm Các, cũng là cái ghen nhân từ của họ Hoạn. Nhưng tại am thờ đức Quan Âm Bồ-tát, nơi vườn nhà Hoạn thư, đời Kiều lại trải qua một nỗi kinh hoàng đáng sợ. Nguyên truyện (Kim Vân Kiều truyện) viết: Tứ hạ quan vọng, thị hảo nhất sở viên tử, tứ thời hữu bất tuyệt chi hoa(tạm hiểuThúy Kiều trông ngắm bốn bề, thấy đây là một khu vườn đẹp, cỏ hoa bốn mùa, cảnh vật như xuân). Cảnh sắc này trong thơ lại được Nguyễn Du cho Hoạn Thư nói: 

Sẵn Quan Âm các vườn ta

Có cây cổ thụ có hoa bốn mùa

Có cổ thụ, có sơn hồ,

Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.

Tàng tàng trời mới bình minh,

Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.

Không chỉ có hoa cỏ bốn mùa tỏa hương khoe sắc, thi nhân đã trồng thêm vào vườn nhà Hoạn Tcảcây trăm thước. Nếu một khu vườn bốn mùa đều có hoa, một gia đình bình thường chỉ cần trồng trọt, vun xới trong vài tháng đã có. Còn cây trăm thước, những cây cổ thụ lâu năm, được nuôi dưỡng từ đời này qua đời khác chính là hình ảnh ẩn dụ cho một gia đình trâm anh thế phiệt, quyền thế nhiều đời. Cảnh đẹp, không gian thanh tịnh, họa chăng là quá rộng lượng với Thúy Kiều? Giữa khung cảnh cây cao bóng mát, hoa cỏ ngát hương, có “ngũ cúng”, sắm sanh”, công việc của Kiều chỉ có “chép kinh”, an tâm tu tập.

“Đưa nàng đến trước Phật đường,

Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.

Áo xanh đổi lấy Cà sa,

Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.

Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,

Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà”.

Phải nói Hoạn thư quá chu đáo trong việc cho Kiều đi tu. Trước hết là thay đổi y phục: từ áo xanh (áo con ở) sang mặc cà sa, kế đến là thay đổi tên gọi: hoa nô (con ở) nay có pháp danhTrạc Tuyền… Rồi sớm khuya tính đủ dầu đèn, Hoạn chu cấp đầy đủ mọi điều kiện cần có cho người đi tu. Nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện, cũng như Truyện Kiều, không nói rõ người nào đã làm lễ xuất gia cho Thúy Kiều. Có thể thời ấy, do chưa có đủ kiến thức về Phật học nên Nguyễn Du nói Thúy Kiều xuất gia nhưng chỉ thọ năm giới, vốn là của cư sĩ, chứ đâu phải giới của người xuất gia. Theo quy định của Phật giáo, phải thọ mười giới mới được làm sa-di-ni”. Nhưng có một vị sư trưởng nào đó đã được mời tới để làm lễ xuất gia cho Thúy Kiều tại Quan Âm và người đó đã đặt cho Thúy Kiều pháp danh là Trạc Tuyền. Vì sao là cái tên đó mà không phải cái tên nào khác? Người đó có lẽ đã thấy được cái bản chất, căn nguyên đau khổ của Thúy Kiều mà thể hiện lòng từ bi đối với nàng ấy. Thúy Kiều đang mang trong mình rất nhiều oan ức, rất nhiều nghiệp duyên và những nghiệp duyên đó chỉ có từ bi của đạo Phật mới rửa sạch được.Trạcnghĩa là rửa sạch, gội cho sạch,Tuyền nghĩa là dòng suối, Trạc Tuyền tức là một dòng suối mà nước có thể rửa sạch những nỗi oan khổ cùng cực của cuộc đời.

“Nàng từ lánh gót vườn hoa,

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.

Nhân duyên đâu lại còn mong,

Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi”.

Bước sang một cuộc sống hoàn toàn khác cảnh cũ, Thúy Kiều lại ngổn ngang tâm sự. Nàng gần với cảnh tu hành (dường gần rừng tía) và xa chuyện đau buồn của cõi thế tục (dường xa bụi hồng). Hai chữ dường nghĩa là chưa dứt khoát, còn lưu tuyến, vấn vương bởi tâm trạng Kiều còn mang nặng mối tình trần thế với chàng Thúc. Nhân duyên giữa nàng và chàng vẫn còn hiện diện, nỗi đau chia xa như vết thương còn rơm rớm máu. Vì thế, dù cho có né tránh được “thẹn phấn” hay “tủi hồng” nhưng cũng chỉ là bề ngoài mâu thuẫn với nội tâm. Duyên chưa dứt, phấn hồng dù có buông xuôi thì sóng lòng vẫn cuồn cuộn tuôn trào dẫu thế gian thanh tịnh, an lạc. Cho nên:

“Phật tiền thảm lấp sầu vùi,

Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.

Cho hay giọt nước cành dương,

Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên”.

 

Kiều trước cửa Phật cố tình lấy việc chép kinh sớm hôm chỉ để khuây khỏa, vùi lấp nỗi thảm sầu vẫn âm ỉ trong lòng. Một lần nữa Nguyễn Du lại tách hai chữ vùi - lấp, đã lấp, đã vùi có nghĩa là vẫn còn đấy một nỗi đau. Nén hương lòng vẫn đều đều thành kính dâng lên, họa chỉ mong “giọt nước cành dương” dập tắt mọi “lửa lòng” thế tục, Thúy Kiều phải giằng xé nội tâm dữ dội để tìm được sự bình yên trong tâm hồn.

“Nâu sồng từ trở màu thiền,

Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu,

Cửa thiền, then nhặt, lưới mau,

Nói lời trước mặt, rời châu vắng người.

Gác kinh viện sách đôi nơi,

Trong gang tấc lại gấp mười quan san”.

Thúy Kiều phải sống trong hai tâm trạng, hai con người khác biệt. Trước mặt người khác, nàng cười nói bình thường, gắng gượng che dấu cảm xúc, nỗi đau, nhưng khi chỉ một mình, Kiều “rơi châu” trong ai oán, tủi nhục, nhớ thương da diết. Làm sao Thúy Kiều có thể chịu đựng được cái cảnh tách biệt đôi nơi khi “gác kinh”, “viện sách” gần nhau đấy, cùng trên mảnh vườn đấy nhưng lại như “gấp mười quan san”. Hình ảnh so sánh gián tiếp cho thấy nỗi nhớ da diết Thúy Kiều dành cho Thúc Sinh, sự chia cắt làm nỗi nhớ ấy thêm quyết liệt, mạnh mẽ hơn. Phải chăng bề ngoài, Hoạn Thư thể theo nguyện vọng của Kiều cho nàng đi tu, thực chất lại là giam lỏng, để Kiều - Thúc, hai người lặng lẽ chịu nỗi đau mới? ( còn tiếp)

 Tạp chí Hoa Đàm số 26

Các tin liên quan
» Trái tim trăng sáng - 03:14 CH | 27/10/2015
» Hoa mai của Thiền sư Mãn Giác - 08:44 CH | 07/04/2015
Hình ảnh cuộc đời Đức Phật Thích Ca  
XEM NHIỀU NHẤT
1/
06/06/2013 02:32 ( 14358 )
2/
14/01/2013 06:17 ( 12587 )
3/
05/06/2013 21:53 ( 10644 )
4/
06/06/2013 03:24 ( 10609 )
5/
22/06/2013 19:00 ( 10145 )
6/
06/06/2013 04:46 ( 10094 )
7/
12/01/2015 12:24 ( 9660 )
8/
24/08/2013 08:28 ( 9380 )
9/
14/01/2013 05:58 ( 9250 )
10/
10/03/2014 23:53 ( 9130 )
11/
14/01/2013 05:58 ( 9053 )
12/
14/01/2013 05:56 ( 9022 )
13/
06/06/2013 03:31 ( 8340 )
14/
23/09/2013 16:17 ( 7656 )
15/
13/01/2013 23:11 ( 7567 )
16/
14/01/2013 06:02 ( 7420 )
17/
14/01/2013 06:14 ( 7311 )
18/
10/03/2014 23:52 ( 6654 )
19/
29/07/2014 19:51 ( 6192 )
20/
08/06/2013 06:04 ( 6022 )
NHẠC PHẬT GIÁO
TRUY CẬP
Bạn là người truy cập thứ
: 26 055 973
Đang truy cập
: 313

Chinese Buddhism Pages
中国佛教网
http://www.foyuan.cn http://www.fod123.com http://www.hsfj.com http://www.pszj.org http://www.cnbuddhism.com http://www.foyue.net.cn http://www.21foxue.com http://www.foyin.com
http://www.putuoshan.org.cn http://www.fo114.net http://www.chinawts.com http://www.chinafo.org http://www.fjnet.com http://www.chinavegan.com http://www.fowang.com http://www.hongfasi.net