Thứ Ba, 12 2017 09:22 CH
中国的
Tư tưởng hiếu đạo trong nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa
01:12 CH | 02/05/2016
 TƯ TƯỞNG HIẾU ĐẠO TRONG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA

Niệm Huệ

Việt Nam và Trung Quốc, có thể nói đây là hai quốc gia có mối quan hệ ràng buộc về mặt chính trị trải qua hơn 1000 năm lịch sử nên ít nhiều cũng có sự giao thoa lẫn nhau về lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy giữa hai quốc gia này có rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa. Tuy nhiên, khi nghiên cứu tường tận thì mỗi quốc gia vẫn mang đặc trưng văn hóa riêng. Chẳng hạn như trong phương diện tôn giáo, dường như Việt Nam và Trung Quốc đều có sự dung hòa giữa Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo. Thế nhưng, mức độ tác động và tầm ảnh hưởng của các tôn giáo này sẽ khác nhau ở mỗi quốc gia. Ở Trung Quốc, Nho giáo được hình thành và vận hành mọi cơ chế chính trị, xã hội, bám sâu gốc rễ vào đời sống kinh tế, văn hóa của người dân Trung Hoa. Trong khi đó, ở Việt Nam, tuy Nho giáo vẫn giữ địa vị độc tôn thống trị trong một thời gian dài (1000 năm Bắc thuộc), nhưng suy cho cùng trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm văn hiến thì tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc nhất đến đời sống văn hóa người dân Việt Nam lại là Phật giáo.

 

Khi nói đến vai trò của tôn giáo trong đời sống văn hóa, Bronislaw Malinowski cho rằng: “Tôn giáo bảo đảm sự chiến thắng của truyền thống và văn hóa đối với những phản ứng tiêu cực của bản năng bị ngăn cấm”. Và “Xã hội cần tôn giáo để duy trì quy luật và trật tự đạo đức”1. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến vai trò của hai tôn giáo ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc là Phật giáo và Nho giáo. Một trong những điểm gặp gỡ rõ nét nhất giữa hai tôn giáo này đó là tư tưởng hiếu đạo. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích tư tưởng hiếu đạo biểu hiện qua một số phương diện như văn học nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục lễ tết - lễ hội để làm rõ điểm tương đồng và dị biệt giữa hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa.

1.Văn học nghệ thuật

1.1Văn học nghệ thuật Việt Nam

Hiếu kính với cha mẹ là một truyền thống tốt đẹp và lâu đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó từ xa xưa đã được giữ gìn và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mãi cho đến ngày nay. Vì thế ca dao Việt Nam có câu:

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Khi cha mẹ gặp lúc trở trời trái gió, người con hiếu thảo lo sợ cha mẹ qua đời nên đến trước bàn Phật thắp hương lâm râm khấn vái, cầu nguyện Phật, Trời phò hộ cho cha mẹ sống đời với con:

“Lâm râm khấn vái Phật, Trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.

Người con phát tâm tu tập theo đạo Phật, muốn dứt khoát cuộc đời thế tục, vào nương mình dưới bóng từ bi, nhưng còn cha mẹ già yếu chưa đền đáp được chút ơn sanh thành, nên khó lòng cất bước ra đi. Người con hiếu bị giằng co giữa hai ý niệm: vừa muốn tìm đường thoát tục, vừa lo đền đáp công ơn sanh thành:

“Đến chùa thấy Phật muốn tu,

Về nhà thấy mẹ công phu không đành”.

Cao thượng hơn, người Việt Nam đã thần thánh hóa cha mẹ, coi cha mẹ như Phật, xem việc thờ kính cha mẹ là thờ kính Phật. Cho nên người bình dân đã nói: “Phật trong nhà không thờ, thờ Thích-ca ngoài đường”. Bên cạnh những câu ca dao tục ngữ, trong kho tàng văn học Việt Nam còn có những câu chuyện về những tấm gương hiếu thảo, điển hình như Chữ Đồng Tử đã lấy tấm khố duy nhất để khâm liệm cho cha dù cho mình phải chịu sống cảnh trần truồng như người thời Nguyên thủy. Ngoài ra, còn rất nhiều câu chuyện về những tấm gương hiếu hạnh được người đời luôn ca ngợi như vua Tự Đức v.v... Đặc biệt hơn, tư tưởng hiếu đạo còn được người Việt Nam ca ngợi bằng lời ca tiếng hát, điển hình như bản nhạc “Ơn nghĩa sanh thành” của Dương Thiệu Tước : “Uống nước nhớ nguồn, làm con phải hiếu … Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra...”. Đồng thời tư tưởng hiếu đạo còn được bác học hóa thành các tác phẩm văn thơ, truyện tích trong kho tàng văn học Việt Nam điển hình như Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính ...Như vậy, có thể nói tinh thần hiếu thảo của dân tộc Việt Nam nói chung và tư tưởng hiếu đạo của Phật giáo nói riêng đã thấm sâu vào tâm tư huyết quản của người dân Việt Nam từ ngàn xưa mãi cho đến ngày nay.

 

2.1 Văn học nghệ thuật Trung Quốc

Khi nói đến tư tưởng hiếu đạo của Nho giáo chúng ta không thể nào không nhắc đến Hiếu kinh ( ). Hiếu kinh được Nho gia đời sau đưa vào Thập tam kinh và đứng trên cả Luận ngữMạnh Tử. Hơn nữa, mười hai sách kia không sách nào được dùng chữ “kinh” để đặt tên, nói Dịch kinh, Thi kinh, Xuân Thu kinh v.v… chẳng qua là do người đời sau gọi, riêng Hiếu kinh thì ngay từ khi biên soạn đã được đặt tên là “kinh”. Chỉ một điều đó thôi cũng đủ thấy người đời sau rất tôn trọng chữ Hiếu. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có “Nhị thập tứ hiếu” do Quách Cư Nghiệp biên soạn vào thời nhà Nguyên. Tác phẩm kể lại các câu chuyện về 24 tấm gương hiếu thảo xuất hiện từ thời Thuấn Đế đến thời Nguyên, điển hình như vua Ngu Thuấn, Quách Cự, Tăng Sâm, Mạnh Tông …Để ca ngợi công ơn của cha mẹ, trong Kinh Thi (經詩) có câu: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã. Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực”. Nghĩa là: Cha sinh ta, mẹ nuôi ta, xót thương cha mẹ sinh ta khó nhọc. Muốn báo ơn cha mẹ, nhưng ơn cha mẹ như trời cao chẳng cùng. Qua đó cho thấy, trong nền văn hóa Việt Nam hay Trung Quốc, thông qua những câu ca dao, tục ngữ, lời ca tiếng hát bình dân hay những tác phẩm văn chương bác học, tư tưởng hiếu đạo luôn được đề cao và tán dương khen ngợi.

2. Tín ngưỡng - Tôn giáo

2.1. Tín ngưỡng

Về phương diện tín ngưỡng, tuy Việt Nam và Trung Quốc đều theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nhưng có thể nói tín ngưỡng thờ tổ tiên ở Việt Nam sâu sắc hơn nhiều vùng ở Trung Hoa. Đạo Hiếu là nền tảng của tín ngưỡng thờ tổ tiên ông bà, xa hơn là thờ tổ mẫu, quốc tổ. Trong tín ngưỡng thờ tổ tiên, đạo Hiếu Việt Nam thể hiện tính dung hòa sâu sắc với niềm tin tâm linh vốn rất phong phú ở Việt Nam. Với tính dung hòa ấy, tính chất dân chủ của đạo Hiếu càng được mở rộng, vượt khỏi khuôn khổ gia đình. Với tư duy tổng hợp, đầu óc thần bí, người Việt Nam tôn thờ tổ tiên ngoài mục đích thể hiện chữ Hiếu còn gửi gắm niềm mong mỏi hay ước vọng may mắn của mình. Con cháu muốn trọn đạo hiếu với tổ tiên thì những ngày kỵ giỗ, tết nhứt phải cúng cấp tử tế. Những người bỏ giỗ tết cũng chẳng khác gì người không có con nối dõi, là kẻ đại bất hiếu. Thờ cúng tổ tiên tỏ lòng hiếu thảo, nhân nghĩa. Trong điều 13 có đoạn: “Hiếu kinh nói: ‘Làm tôn miếu để cúng quỷ thần, tế lễ hai mùa xuân thu để nghĩ đến theo thời tiết’. Lại nói: ‘Khi sống thờ bằng kính yêu, khi chết thờ bằng thương nhớ”3. Như vậy, có thể nói thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng thể hiện tinh thần hiếu đạo của con cháu đối với ông bà cha mẹ đã mất một cách cụ thể nhất.

2.2. Phật giáo

Đối với công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, trong Kinh Vu lan và Báo hiếu4, Đức Phật dạy: Dù cho gặp cơn đói rét mà dâng hết thân này để nuôi cha mẹ, hoặc hai vai cõng cha mẹ đi giáp vòng hòn núi Tu-di hay khoét thủng song ngươi để đền đáp công ơn cha mẹ cũng không thể nào sánh đủ. Sự đền ơn đáp nghĩa cho cha mẹ không gì hơn là phải thực thi 5 điều mà Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt5 ghi: 1. Cung kính và vâng lời cha mẹ, 2. Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, 3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình, 4. Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại, 5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời. Ngoài ra Đức Phật còn đề cập bốn trách nhiệm để hướng dẫn cha mẹ sống đúng theo chánh pháp: 1. Nếu cha mẹ không có niềm tin, khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam bảo, 2. Nếu cha mẹ xan tham, khuyên cha mẹ phát tâm bố thí, 3. Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng tâm làm việc thiện, 4. Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến. Đây chính là hiếu hạnh mà đạo Phật chủ trương trong dòng chảy văn hóa dân tộc.

 

Đối với Phật giáo, lúc cha mẹ còn sống, người con hiếu thảo không chỉ chăm lo phụng dưỡng, cung cấp hầu hạ cha mẹ về phương diện vật chất như quan điểm của Nho giáo; mà còn phải quan tâm, lo lắng làm sao cho cha mẹ được kiện toàn về phương diện tâm linh. Người con chí hiếu phải biết dùng phương tiện thiện xảo để khuyên cha mẹ tin kính Tam bảo, ăn chay niệm Phật, làm lành lánh dữ, nguyện cầu sanh về cảnh giới an vui. Sau khi cha mẹ qua đời, phải tụng kinh bái sám, bố thí cúng dường, thay thế cha mẹ tu tạo công đức, hồi hướng cho cha mẹ thoát khỏi tam đồ bát nạn, không bị trầm luân trong vòng luân hồi sanh tử khổ đau. Đây chính là hiếu đạo theo quan điểm Phật giáo. Ngoài ra, với tinh thần từ bi bác ái, thương yêu rộng khắp mọi chúng sinh, tư tưởng hiếu đạo của Phật giáo cũng mang một ý bao quát, ngoài việc báo ân cha mẹ, Phật giáo còn đề cập đến: ân thầy cô đã dạy dỗ, mang lại cho ta kiến thức; ân quốc gia xã hội đảm bảo cho ta cuộc sống hòa bình, ổn định; ân chúng sinh đồng bào đã sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống chúng ta hằng ngày.

2.3. Nho giáo

Bàn về tư tưởng hiếu đạo theo quan điểm Nho giáo, trong Hiếu kinh, một tác phẩm văn học Trung Quốc nói về đạo hiếu của Nho giáo có đề cập: “Thân thể, tóc da nhận từ cha mẹ không dám hủy thương”6. Qua đó cho thấy, một người con hiếu thảo theo quan niệm của Nho gia là phải trân trọng, giữ gìn thân thể, tóc da do cha mẹ sanh ra không dám hủy hoại. Họ cho rằng Sa-môn cắt bỏ râu tóc là trái với lời dạy của Thánh nhân, không hợp với đạo của người con hiếu. Kế đến, một điểm vô cùng quan trọng về đạo hiếu của Nho giáo là việc nối dõi tông đường: “không gì hơn là nối dõi, bất hiếu không gì hơn là không có con trai”7. Ý muốn nói gia đình phúc đức thì phải có con trai nối dõi tông đường; ngược lại nếu không lập gia đình, không có con trai để duy trì dòng tộc thì đó là con bất hiếu. Do đó, họ chê trách Sa-môn xuất gia, bỏ vợ con là hạng người bất hiếu.

 Theo Nho giáo, một người con hiếu thảo khi cha mẹ còn tại thế, phải hết lòng phụng dưỡng cho cha mẹ, cung cấp đầy đủ ba việc ăn, mặc, ở; bản thân người con phải giữ gìn thân thể do cha mẹ sanh ra, không được hủy hoại dù là sợi râu cọng tóc, sắc phục phải theo lễ chế của xã hội, và đặc biệt là phải làm tròn bổn phận nối dõi tông đường, lập thân hành đạo, làm rạng danh cho tổ tông dòng họ. Sau khi cha mẹ mất thì phải thờ cúng cha mẹ, kế thừa sự nghiệp mà cha mẹ đã để lại. Như vậy, mới trọn đường hiếu thuận lúc cha mẹ còn sống cũng như khi đã chết. Đây chính là hiếu đạo của Nho giáo Trung Quốc. Nếu như ở Trung Quốc, trung và hiếu tồn tại ở hai cấp độ khác nhau (quốc gia, gia tộc) thì ở Việt Nam có sự hợp nhất giữa hai khái niệm này. Khái niệm Đại hiếu trong giai thoại Nguyễn Trãi đưa tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh đi tù ở Trung Quốc là một minh chứng sống động. Khi Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng, Nguyễn Trãi theo khóc, lên đến cửa Nam Quan mà không chịu trở lại, Nguyễn Phi Khanh bảo: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là phải đi theo khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?”8. Nguyễn Phi Khanh đã dạy con rằng hiếu với cha chỉ là “tiểu hiếu”, người có hiếu đạo thật sự phải đặt “đại hiếu” lên hàng đầu. Con người Việt Nam là con người tổ quốc, văn hóa Việt Nam trước hết là vì tổ quốc. Chữ Hiếu ở Việt Nam được lăng kính Tổ quốc luận gắn thêm vào tầng nghĩa rộng nhất, vinh quang nhất của nó là Hiếu với tổ quốc. Nhìn chung, đối với nền văn hóa Trung Quốc, tư tưởng hiếu đạo bị chi phối bởi tinh thần Nho giáo. Còn ở Việt Nam, tư tưởng hiếu đạo dù có giao thoa với triết lý Nho giáo nhưng nó vẫn giữ được nét truyền thống và dung hợp với triết lý Phật giáo, ảnh hưởng sâu sắc đến tính cách văn hóa Việt Nam. Đối với một số tôn giáo mới ở Nam bộ, như Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Hòa Hảo…, Hiếu vẫn là tư tưởng chủ đạo.

3.       Phong tục - lễ hội

Đối với nền văn hóa Việt Nam và Trung Quốc, đạo Hiếu thể hiện rõ nhất trong các phong tục vòng đời như phong tục hôn nhân và phong tục tang ma, phong tục lễ tết - lễ hội...

3.1 Phong tục hôn nhân

Mục đích chính của hôn nhân là sinh con đẻ cháu để nối dõi tông đường. Trong nghi lễ thành thân, con cái phải lạy cha mẹ để tỏ lòng tri ân hai đấng sanh thành. Đứng trên lập trường của Nho giáo, Mạnh Tử cho rằng: “Bất hiếu có ba, không có con nối dõi là lớn nhất”. Qua đó cho thấy, hôn nhân là điều rất quan trọng trong truyền thống Nho giáo. Trường hợp đôi vợ chồng nào không sinh được con trai để nối dõi tông đường thì người chồng có quyền ly dị vợ hoặc sẽ cưới thêm tỳ thiếp khác. Đây là một trong những nguyên nhân phát sanh tục đa thê đa thiếp và là tác nhân gây nên những đổ vỡ hạnh phúc gia đình trong xã hội Trung Quốc cũng như Việt Nam xưa kia. Ngày nay, ở Việt Nam, ngoại trừ Bắc và Trung bộ còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo, ở Nam bộ với tính cách mở thoáng và tiếp thu văn hóa phương Tây, việc lập gia đình sinh con đẻ cái không còn là thủ tục bắt buộc với những thanh niên nam nữ muốn có cuộc sống tự do. Việc sanh con trai không còn là điều kiện quan trọng bởi quan niệm “trai mà chi, gái mà chi, sanh ra có ngãi có nghì thì hơn”.

3.2 Phong tục Tang ma

 Phong tục tang ma thể hiện những mối quan hệ tình cảm và quan hệ gia đình xã hội đối với người chết. Tục khóc than lăn đường ở vùng Bắc Bộ thể hiện nỗi xót thương. Tục để tang phản ánh mối quan hệ thân, sơ của các thân nhân đối với người chết: khi việc chôn cất chưa xong, các con mặc áo sô, con trai còn đội mũ rơm và chống gậy, con gái con dâu thì xõa tóc, đội mũ mấn, cháu chắt họ hàng thì đội khăn vải trắng; sau khi chôn cất, có tục con cháu tiếp tục đội khăn, mặc quần áo xổ gấu, đầu tóc không chải, đi chân đất …  Việc lo tang chế cho người đã khuất cũng là bổn phận của một người con hiếu thảo. Theo Nho giáo, khi cha mẹ qua đời người con phải tỏ lòng thương tiếc, lo tang lễ thật chu đáo và người có trách nhiệm chính cho việc tang chế hay thờ cúng tổ tiên sau này phải là người con trai nối dõi tông đường. Phật giáo cho rằng việc tang lễ hay thờ cúng tổ tiên là bổn phận chung của con cháu, không luận là nam hay nữ, đối với cha mẹ, ông bà của mình, và những lễ nghi như thế là vì lợi ích cho người đã mất. 

3.3 Phong tục lễ tết – lễ hội

Phong tục lễ tết truyền thống coi thờ cúng tổ tiên là hoạt động trọng tâm mang đầy đủ các giá trị tốt đẹp của chức năng giáo dục xã hội. Tục rước tổ tiên về ăn tết ngày 30 tháng chạp, tục cúng tổ tiên hàng ngày trong dịp tết Xuân, tục tảo mộ ngày thanh minh, tục cúng tổ tiên ngày Đoan ngọ, tục đoàn viên ngày Trùng cửu v.v... đều hướng đến ý nghĩa uống nước nhờ nguồn, giáo dục con cháu tiếp nối truyền thống chữ Hiếu. Do được hiểu đạo Hiếu theo cung cách dân gian, người Việt Nam thể hiện ý nghĩa của nó trong các phong tục tập quán hoàn toàn theo cung cách dân gian, tức theo xu hướng của tính dân chủ. Đặc biệt trong lễ hội Vu Lan của Phật giáo cũng là dịp để con cháu thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình đối với cha mẹ, tổ tiên ông bà kể cả còn sống hay đã mất. Ở Việt Nam và Trung Quốc đều tổ chức lễ hội này vào ngày rằm tháng 7 hằng năm để người Phật tử có dịp noi gương hiếu thảo của Ngài Mục Kiền Liên báo ân cha mẹ. Trong lễ hội này, người Phật tử hay thậm chí những người không theo đạo cũng đến tham dự, mỗi người được cài lên áo một đóa hoa hồng để tưởng nhớ đến công ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Nếu như cha mẹ đã qua đời, người con hiếu thảo sẽ thiết lễ cầu siêu cho cha mẹ được nhẹ nhàng siêu thoát về cảnh giới an vui. Như vậy, bên cạnh các phong tục hôn nhân và tang ma, người Việt Nam và Trung Quốc còn thể hiện tinh thần hiếu thảo qua các lễ tết truyền thống, lễ mừng thọ ông bà cha mẹ, lễ tảo mộ tết Thanh Minh v.v… tất cả đều thể hiện lòng hiếu thảo, tưởng nhớ và tri ân, báo ân ông bà cha mẹ.

  Qua những vấn đề trình bày trên đây cho thấy, tùy theo đặc điểm xã hội, điều kiện lịch sử và tính chất văn hóa khác nhau của mỗi quốc gia, tư tưởng hiếu đạo được thể hiện khác nhau trong mỗi nền văn hóa. Tuy cùng chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo, nhưng ở Việt Nam, quan niệm về chữ Hiếu dung hòa với tư tưởng Trung quân – ái quốc (Tổ quốc luận), trên tinh thần dân chủ và trọng tình. Còn ở Trung Quốc, Hiếu là nguyên tắc căn bản để trau dồi phẩm hạnh đạo đức cá nhân, là nền tảng để xây dựng đạo đức quốc gia dân tộc trên tinh thần tôn ti - trật tự. Sau khi tìm hiểu tư tưởng hiếu đạo được thể hiện qua một số phương diện như văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục lễ tết - lễ hội của hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa, chúng tôi thấy có một điểm khác biệt nổi bật là: Tinh thần hiếu đạo của Việt Nam mang tính tình cảm tự nhiên, tự nguyện, linh hoạt chứ không mang tính ép buộc, quá quy củ, quy định nghiêm khắc như ở Trung Quốc với quan niệm “quân sử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”; nghĩa là: vua ra lệnh bề tôi chết, nếu bề tôi không chết là không trung thành với vua; cha khiến con chết, nếu con không chết thì trở thành con bất hiếu.

Nói tóm lại, dù là người Việt Nam hay Trung Quốc, vì lòng tự hào dân tộc nên chúng ta có quyền tôn vinh, ca ngợi những gì cao quý, tốt đẹp của Tổ quốc mình và thậm chí có thể quy sự tốt đẹp của người thành sự tốt đẹp của mình. Điều đó không ai dám phủ nhận. Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu thì chúng ta cần phân tích, bình luận những điểm tương đồng hay dị biệt để thấy được điểm đặc thù hay bản sắc văn hóa của từng quốc gia dân tộc.

* Tài liệu tham khảo

1. Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Những vấn đề nhân học tôn giáo, “Ma thuật, khoa học và tôn giáo”, Nxb Đà Nẵng, 2006.

4.   HT. Thích Huệ Đăng (dịch), Kinh Vu lan và Báo hiếu, Nxb Tôn giáo, 2008.

5.   Hòa thượng Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trường bộ, “Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt”, Nxb Tôn giáo, 2013.

3, 6, 7. Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mẫu Tử, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008.

8. Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. Khoa học Xã hội, 1976.

 Tạp chí Hoa Đàm số 25

Các tin liên quan
» Trái tim trăng sáng - 03:14 CH | 27/10/2015
» Hoa mai của Thiền sư Mãn Giác - 08:44 CH | 07/04/2015
Hình ảnh cuộc đời Đức Phật Thích Ca  
XEM NHIỀU NHẤT
1/
06/06/2013 02:32 ( 14358 )
2/
14/01/2013 06:17 ( 12587 )
3/
05/06/2013 21:53 ( 10644 )
4/
06/06/2013 03:24 ( 10609 )
5/
22/06/2013 19:00 ( 10145 )
6/
06/06/2013 04:46 ( 10094 )
7/
12/01/2015 12:24 ( 9660 )
8/
24/08/2013 08:28 ( 9380 )
9/
14/01/2013 05:58 ( 9250 )
10/
10/03/2014 23:53 ( 9130 )
11/
14/01/2013 05:58 ( 9053 )
12/
14/01/2013 05:56 ( 9022 )
13/
06/06/2013 03:31 ( 8340 )
14/
23/09/2013 16:17 ( 7656 )
15/
13/01/2013 23:11 ( 7567 )
16/
14/01/2013 06:02 ( 7420 )
17/
14/01/2013 06:14 ( 7311 )
18/
10/03/2014 23:52 ( 6654 )
19/
29/07/2014 19:51 ( 6192 )
20/
08/06/2013 06:04 ( 6022 )
NHẠC PHẬT GIÁO
TRUY CẬP
Bạn là người truy cập thứ
: 26 055 999
Đang truy cập
: 313

Chinese Buddhism Pages
中国佛教网
http://www.foyuan.cn http://www.fod123.com http://www.hsfj.com http://www.pszj.org http://www.cnbuddhism.com http://www.foyue.net.cn http://www.21foxue.com http://www.foyin.com
http://www.putuoshan.org.cn http://www.fo114.net http://www.chinawts.com http://www.chinafo.org http://www.fjnet.com http://www.chinavegan.com http://www.fowang.com http://www.hongfasi.net